Đại tràng là gì? Các bệnh liên quan đến đại tràng cần biết 2020

Đại tràng là gì?

Đại tràng ( hay ruột già) là phần áp cuối trong hệ tiêu hóa. Chặng cuối cùng của ống tiêu hóa là hậu môn – trong những động vật có xương sống.Nó có chức năng nhận thức ăn đã được tiêu hóa và hấp thu từ ruột non. Nó hấp thụ nước và muối khoáng từ thức ăn và cùng với sự phân hủy. Cùng các vi khuẩn tạo bã thức ăn thành phân. Khi đủ lượng đại tràng sẽ co bóp tạo nhu động và bài tiết phân qua trực tràng, phần cuối cùng của đại tràng gần hậu môn.

Ruột già dài khoảng 1,5 mét (4,9 ft) chiều dài có thể đạt 1m9. Trung bình của người Việt Nam dài 1m48cm và còn khác nhau ở mỗi người và các giới tính. Khoảng 1/5 chiều dài của ống tiêu hóa có nghĩa là ruột già dài bằng khoảng 1/4 ruột non, nhưng tiết diện lại lớn hơn.

Đại tràng là bộ phận quan trọng của cơ thể
Đại tràng là bộ phận quan trọng của cơ thể

Các bộ phận và vị trí

Ruột già chia ra làm 3 phần chính: manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ruột non thông với ruột già tại ranh giới giữa manh tràng và kết tràng. Giữa ruột non và ruột già có van hồi. Manh giữ không cho các chất ở ruột già rơi ngược trở lại ruột non.

Manh tràng

Từ cecum có nguồn gốc từ tiếng Latin: caecum. Có nghĩa là “mù” (từ “manh” trong tiếng Hán Việt cũng có nghĩa là mù). Manh tràng có hình dạng giống như một cái túi tròn. Nằm ngay phía dưới khu vực hổng tràng đổ vào ruột già.
Phía đầu bịt kín có một đoạn ngắn hình giun gọi là ruột thừa có hình dạng như ngón tay. Với chiều dài trung bình ở người lớn khoảng 9 cm và đường kính 0,5–1 cm.
Manh tràng nằm ở vị trí nào?
Manh tràng nằm ở vị trí nào?
Ruột thừa được coi là đi tích còn sót lại của quá trình tiến hoá ở người và vượn người. Ruột thừa có thể có hoặc không là 3 cơ dọc ở manh trang hợp thành. Là cơ tự do, cơ dọc sau ngoài và sau trong.
Cách xác định gốc ruột thừa là nó nằm ở giữa đường nối từ rốn đến gai chậu trước trên. Nằm ở chỗ nối 1/3 ngoài và 2/3 trong đường nối từ rốn đến gai chậu trước trên bên phải. Dựa vào đó có thể nghĩ ngay đến cơn đau ở bụng có phải là đau ruột thừa hay không.

Kết tràng

Kết tràng là thành phần chính của ruột già, được chia làm 4 phần. Bao gồm: tràng lên, kết tràng ngang, kết tràng xuống và kết tràng xích ma.
Kết tràng lên đi từ manh tràng đi lên dọc theo bên phải ổ bụng. Cho đến khi gặp gan chỗ gặp gỡ nó uốn cong gọi là góc phải góc gan.
Sau đó nó trở thành kết tràng ngang, đi ngang qua ổ bụng. Khi đi đến gần lách ở bên trái. Nó quay xuống để tạo thành kết tràng xuống chỗ uốn cong gọi là góc trái hay góc tụy.
Kết tràng gồm 4 bộ phận nhỏ
Kết tràng gồm 4 bộ phận nhỏ
Và khi đi vào khung chậu nó có hình chữ S tạo thành kết tràng xích ma.
Ruột kết là phần đầu của ruột già, ở đây chất cặn bã của thức ăn mất nước, cứng lại. Sau đó chất cặn bã này tới kết tràng xích ma, trực tràng rồi thải ra ngoài.

Trực tràng

Sau khi uốn cong 2 lần, kết tràng xích ma nối tiếp với trực tràng. Là một ống thẳng, dài khoảng 15 cm và kết thúc ở hậu môn mở ra ngoài cơ thể.
Viêm trực tràng
Viêm trực tràng
Có 2 cơ vòng để kiểm soát hoạt động đóng mở của hậu môn trực tràng nằm sau bàng quang ở nam và sau tử cung ở nữ.
Thiết đồ ngang cho thấy ruột già cơ bản gồm 5 lớp thứ tự từ trong ra ngoài là
• Lớp niêm mạc.
• Lớp dưới niêm mạc.
• Lớp cơ gồm cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài.
• Lớp dưới thanh mạc.
• Lớp thanh mạc.

Dịch ruột già

Dịch ruột già không có enzyme tiêu hoá. Mà chỉ có chất nhày để bảo vệ niêm mạc của chính nó mà thôi.

Trong chứng viêm ruột già, chất nhày được tăng tiết, tạo thành từng khối ra theo phân.

Sự thải phân

Thải phân qua động tác đại tiện là một phản xạ không điều kiện. Gây co bóp cơ trơn trực tràng và mở cơ thắt hậu môn.

Trong ngày, ruột già có một vài đợt cử động nhu động mạnh. Để dồn phân tử ruột già xuống trực tràng. Khi áp lực do lượng phân tích tụ tăng, kích thích niêm mạc trực tràng. Phản xạ đại tiện xảy ra, thường chỉ một lần.

Hậu môn có hai vòng cơ thắt là cơ trơn và cơ vân, khi niêm mạc trực tràng kích thích.

Đáng lẽ phản xạ mở cơ thắt xảy ra. Nhưng nếu ý muốn (phản xạ có điều kiện) kìm hãm. Thì vòng cơ vân sẽ co và đóng chặt hậu môn lại. Sau một vài lần trực tràng co nhưng phản xạ không xảy ra.

Phân sẽ bị các cử động phản nhu động dồn trở lại đoạn ruột sigma. Làm cho trực tràng không bị kích thích nữa.

Phản xạ đại tiện bị kìm hãm hoàn toàn. Nếu cứ tiếp tục dùng ý muốn ức chế phản xạ đại tiện sẽ gây hiện tượng táo bón. Ít tập luyện và vận động làm giảm nhu động ruột cũng gây hiện tượng táo bón.

Do vậy, khẩu phần thức ăn có tỷ lệ chất xơ thích hợp, sự luyện tập và vận động. Thực hiện phản xạ đại tiện đúng giờ trong ngày. Là rất quan trọng đối với hoạt động sống của mỗi người.

Một số bệnh liên quan đại tràng

Viêm đại tràng

Viêm đại tràng hay còn gọi là hội chứng ruột kích thích có nghĩa là tình trạng đại tràng bị viêm nhiễm.

Nhiễm khuẩn trực tràng Shigella.
Nhiễm khuẩn trực tràng Shigella.

Nguyên nhân

Viêm đại tràng có thể có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, dựa vào nguyên nhân người ta phân loại một số loại viêm đại tràng sau:

  • Viêm đại tràng do vi khuẩn gây ra (như shigella,Campylobacter, E. coli, và C. difficile)
  • Nhiễm nguyên sinh động vật: Amip…
  • Viêm đại tràng do virus (như cytomegalovirus [CMV])
  • Nhiễm ký sinh trùng: Các loại giun sống ký sinh ở đại tràng như giun đũa, giun kim, giun tóc và các loại sán ruột.
  •  Chế độ ăn uống: Ăn uống không điều độ kéo dài hoặc các thức ăn gây kích thích như rượu, bia làm tổn thương niêm mạc ruột.
  • Bị táo bón kéo dài gây tổn thương thành đại tràng.
  • Viêm đại tràng bức xạ (ví dụ như sau điều trị bằng bức xạ cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt)
  • Viêm đại tràng thiếu máu cục bộ (như tắc nghẽn của động mạch cung cấp máu cho đại tràng bởi một cục máu đông. Nếu cục máu đông ngắt dòng chảy của máu đến một phân đoạn của đại tràng, kết quả là viêm của đoạn đại tràng đó, và đôi khi thậm chí là hoại tử).
  • Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng (do nhiễm khuẩn, dị ứng, hoặc bệnh tự miễn gây tổn thương hồi tràng).

Sa trực tràng

Bệnh lí này có phạm vi đối tượng mắc bệnh rộng hơn viêm trực tràng. Nhưng theo nhiều cuộc nghiên cứu thì nữ giới bị sa trực tràng nhiều hơn nam giới từ 15-20%.
Nguyên nhân khiến phái nữ dễ bị sa trực tràng do quá trình sinh nở. Qúa trình này rất dễ khiến cho trực tràng bị kéo lệch.
Phụ nữ đã cắt cổ tử cung cũng sẽ tăng nguy cơ bị sa trữ tràng. Ngoài ra, bệnh cũng hay gặp ở trẻ em (dạng bẩm sinh) hoặc người già trên 60 tuổi.
Biểu hiện của sa trực tràng khá dễ nhận thấy, người bệnh thường xuyên bị táo bón hoặc tiêu chảy. Đại tiện nhiều ít bất thường, gầy gò, cảm giác nặng ở dưới bụng.

Poplyp đại tràng

Poplyp có thẻ xảy ra ở nhiều vị trí trong đường tiêu hóa nhưng phổ biến là đại tràng. Các poplyp giống như mụn thịt nhỏ phát triển từ lớp niêm mạc ruột và nhô ra trong lòng ruột.

Poplyp đa phần lành tính nhưng một số khả năng có thể ác tính và trở thành ung thư.

một dạng polyp thường gặp
một dạng polyp thường gặp

Ung thư đại trực tràng

Là ung thư phát triển từ ruột kết hay trực tràng.

Bệnh gây lên bởi sự phát triển bất thường của các tế bào có khả năng xâm lấn. Hoặc tế bào có khả năng lan rộng ra các bộ phận khác của cơ thể.

Viêm đại tràng màng giả

Viêm đại tràng màng giả đôi khi được gọi là viêm đại tràng. Liên quan đến kháng sinh hoặc viêm đại tràng C.dificile.

Tổn thương trong viêm đại tràng giả  luôn kết hợp với phát triển quá mức của vi khuẩn C.dificile.

Viêm đại tràng màng giả gây cảm giác đau đớn, mất nước, suy thận. Lỗ trong ruột có thể dẫn đến nhiễm trùng ổ bụng.

Bệnh crohn

Bệnh crohn Là tình trạng viêm ở ruột. Nó chủ yếu gây loét thành trong của ruột non và ruột già.

Bệnh gây ra viêm màng đường tiêu hóa. Có thể dẫn đến đau bụng, tiêu chảy, nhiều trường hợp dẫn đến suy dinh dưỡng nghiêm trọng.

Bệnh Crohn
Bệnh Crohn

Túi thừa đại tràng

Là cấu trúc dạng túi phát triển trong thành của đại tràng. Thường gặp ở đại tràng sigma, cũng có thể gặp ở toàn bộ đại tràng. Khi các túi thừa này bị viêm nhiễm gây ra bệnh lý viêm túi thừa

Một số phương pháp chuẩn đoán xét nghiệm

Một số xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán bệnh viêm ruột bao gồm:

Xét nghiệm máu

Bác sĩ sẽ gửi mẫu máu đến phòng thí nghiệm để kiểm tra tình trạng viêm,. Các dấu hiệu khác của bệnh viêm ruột hoặc thiếu máu.

Xét nghiệm mẫu phân

Bác sĩ sẽ gửi mẫu phân để xét nghiệm máu và các dấu hiệu viêm khác liên quan đến viêm ruột.

Nội soi đại tràng

Đối với cả hai xét nghiệm này, các bác sĩ sẽ chèn một ống dài và mỏng. Có gắn đèn vào hậu môn trong khi người bệnh được cho dùng thuốc gây mê. Hình ảnh xuất hiện trên màn hình.

Trong khi nội soi đại tràng. Bác sĩ của bạn nhìn vào lớp lót của phần dưới của ruột già. Đôi khi là một phần nhỏ của ruột non.

Bác sĩ tìm kiếm bất kỳ vết viêm, chảy máu, hoặc loét. Trong khi kiểm tra, bác sĩ có thể làm sinh thiết.

Để lấy một mẫu mô từ niêm mạc của đường tiêu hóa và kiểm tra dưới kính hiển vi.

Chụp cắt lớp vi tính (CT scan)

Chụp CT lấy tia X từ nhiều góc khác nhau trên cơ thể. Bác sĩ sẽ nghiên cứu các tia X tìm ra dấu hiệu viêm.

Chụp cắt lớp CT hoặc cộng hưởng từ (MR)

Chụp cắt lớp CT sử dụng một loại tia X đặc biệt. Có tác dụng tìm kiếm các vấn đề trong đường tiêu hóa.

Chụp cắt lớp MR là một cách khác để xem xét đường tiêu hóa. Nhưng nó không sử dụng bức xạ tia X.

Đối với cả hai quy trình , người bệnh phải uống một chất lỏng với dung dịch nhuộm hoặc tương phản. Giải pháp này cho phép các bác sĩ nhìn thấy các khu vực có vấn đề. Bằng cách sử dụng tia X hoặc từ trường.

Nội soi viên nang

Một ống nội soi viên nang là một máy ảnh nhỏ. Hình viên thuốc mà bênh nhân nuốt. Camera sau đó đi qua hệ thống tiêu hóa.

Nó ghi lại hình ảnh của ruột non. Sau đó gửi hình ảnh đến màn hình nơi bác sĩ có thể xem xét để chẩn đoán

Trên đây là một số kiến thức liên quan đến bộ phận này. Hy vọng sẽ giúp các bạn có kiến thức phòng bệnh tốt trong cuộc sống hàng ngày.